Trang chủ
 
 
Giới thiệu
 
 
Chính quyền
 
 
Công dân
 
 
Doanh nghiệp
 
 
Du khách
 
 
Du lịch vùng sâm
 
 
Công khai tài chính
 
 
Liên hệ - góp ý
 
 
Thông báo chạy
 
 
Video
 
 
Thư viện ảnh
 
 
Thư viện âm nhạc
 
 
Lịch công tác
 
Cổng thông tin điện tử huyện Nam Trà My kính chào quý khách.
CHI TIẾT TIN

Nam Trà My trên con đường phát triển, hội nhập

Ngày đăng: 8:04 | 14/08 Lượt xem: 92

Thực hiện Nghị định số 72/2003/NĐ-CP của Chính phủ về chia tách huyện Trà My thành hai huyện Nam Trà My và Bắc Trà My. Từ tháng 8/2003, Đảng bộ huyện Trà My cũng được chia tách thành hai Đảng bộ trực thuộc Tỉnh. Đảng bộ huyện Nam Trà My có 26 tổ chức cơ sở đảng với 533 đảng viên. Sau khi chia tách với muôn vàn khó khăn thử thách, nhưng Đảng bộ Nam Trà My đã kịp thời củng cố xây dựng các tổ chức cơ sở đảng TSVM, qua phân loại năm 2003 có 12/26 tổ chức cơ sở đảng TSVM, chiếm tỷ lệ 46%, còn lại đạt loại khá, không có tổ chức Đảng yếu kém.




Ảnh: Đồng chí Đinh Mươk và đồng chí Huỳnh Tấn Sâm
nhận hoa ngày chia tách huyện 01.8.2003

1. Những thành tựu đạt được của huyện Nam Trà My qua 70 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành

Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hằng năm đạt 10%; cơ cấu giá trị sản xuất theo giá hiện hành tăng dần ở 02 lĩnh vực: công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp từ 17,5% năm 2015 lên 19,62% và nông – lâm  nghiệp từ 48,9% năm 2015 lên 51,5%. Thu nhập bình quân đầu người ước tính 11,5 triệu/người/năm.

Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng được đẩy mạnh, nhất là chuyển diện tích trồng lúa rẫy sang trồng các loại cây dược liệu. Sản lượng lương thực cây có hạt đạt 4.967,7 tấn. Đẩy mạnh phát triển kinh tế vườn, kinh tế trang trại, đến nay toàn huyện có 25 trang trại lớn, nhỏ, với diện tích trên 500 ha và trên 2.518 ha vườn đồi, vườn rừng[1]. Hiện nay có 39 nhóm hộ (779 hộ tham gia) xã Trà Linh, Trà Nam và Trà Cang phát triển trồng Sâm Ngọc Linh dưới tán rừng, với tổng diện tích hiện có 932,16 ha[2], đạt 93,1% so với chỉ tiêu. Hằng năm, tổ chức gieo ươm 500 - 600 nghìn cây, đạt 333% so với chỉ tiêu.

Công tác quản lý bảo vệ rừng, đã thực hiện khoán bảo vệ rừng cho các cộng đồng dân cư đạt 38.901,74ha; trong đó, thực hiện chính sách dịch vụ môi trường rừng: 36.312,99ha, thực hiện khoán bảo vệ rừng cho các hộ gia đình theo Nghị định 75/2015/NĐ-CP là 2.588,75ha. Chỉ đạo rà soát, củng cố nhóm hộ nhận khoán bảo vệ rừng từ 107 nhóm xuống còn 96 nhóm với 1.528 hộ nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác bảo vệ rừng. Mật độ che phủ rừng đạt 55,3% (tăng 0,3% so với chỉ tiêu Nghị quyết).

Chương trình MTQG xây dựng Nông thôn mới, gắn với việc chỉ đạo triển khai xây dựng “Khu dân cư nông thôn mới kiểu mẫu” triển khai đều khắp đến nay, xã Trà Mai (xã điểm của Tỉnh) đạt 15/19 tiêu chí; 01 xã đạt 09 tiêu chí (Trà Don); 03 xã đạt 08 tiêu chí (Trà Linh, Trà Nam, Trà Vân); 02 xã đạt 07 tiêu chí (Trà Tập, Trà Dơn); 03 xã đạt 06 tiêu chí (Trà Cang, Trà Vinh, Trà Leng).

Hoàn thành lập các đồ án quy hoạch chi tiết điểm dân cư Thôn 4 Trà Tập; quy hoạch chi tiết khu dân cư Thôn 3 xã Trà Mai; quy hoạch chi tiết cụm công nghiệp Trà Don – Trà Mai; lập đề án và dự toán quy hoạch Tắk Pỏ thành đô thị loại V và quy hoạch sản xuất nông lâm ngư nghiệp, sắp xếp và bố trí 115 khu dân cư trên địa bàn huyện.

Lĩnh vực công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp bước đầu hình thành các cơ sở khai thác vật liệu xây dựng, chế biến lâm sản quy mô nhỏ. Hiện nay, đang đầu tư xây dựng 01 cụm công nghiệp Trà Don - Trà Mai với quy mô 05 ha. Hệ thống điện lưới quốc gia được mở rộng, nâng số hộ sử dụng điện hiện nay là 4.333 hộ/6.972 hộ, đạt tỷ lệ 62,1%[3].

Thương mại và dịch vụ trên địa bàn huyện có bước phát triển đáng kể, nhất là dịch vụ vận chuyển hành khách, hàng hóa và dịch vụ lưu trú[4]. Tổ chức thành công Lễ hội Sâm Ngọc Linh lần thứ I-2017, thứ II-2018, thứ III- 2019 và các Phiên chợ Sâm Ngọc Linh hằng tháng (bắt đầu từ tháng 10-2017), nhằm quảng bá các sản phẩm nông sản của huyện và góp phần xây dựng thương hiệu Sâm Ngọc Linh. Hiện nay, đã có nhiều doanh nghiệp đăng ký vào đầu tư trồng Sâm Ngọc Linh (Sâm Việt Nam); tổng diện tích các doanh nghiệp đến liên hệ khảo sát, đăng ký gần 200ha[5]. Tập trung đầu tư cho du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, đến nay đã được tỉnh Quảng Nam công bố điểm du lịch “Vườn sâm Ngọc linh – Tăk ngo” với tổng diện tích 85 ha nhằm thu hút khách tham quan trong và ngoài tỉnh đến với Nam Trà My.

Tập trung đầu tư, xây dựng kết cấu hạ tầng, các công trình dân sinh phục vụ phát triển kinh tế – xã hội. Ưu tiên bố trí vốn cho dự án trọng điểm về giao thông vào vùng Sâm[6]; dự án san nền khu dân cư Trà Tập (tổng mức đầu tư 14.747 triệu đồng); dự án đường Trà Vinh – Đăk Ru (tổng mức đầu tư 80 tỷ đồng) và cụm công nghiệp Trà Mai – Trà Don (tổng mức đầu tư 19.753 triệu đồng).

Hiện đang xúc tiến dự án đường liên kết vùng Trà My – Phước Thành, kết nối vùng Quế gốc Trà My tại xã Trà Leng, với tổng mức đầu tư 308 tỷ đồng. Đẩy mạnh làm đường giao thông nông thôn theo cơ chế nhà nước và nhân dân cùng làm, qua 02 năm đã thực hiện được 14 km. Tiến hành sắp xếp lại dân cư từ 244 khu xuống còn 115 khu vào năm 2025. Trong năm 2017 đã thực hiện được 13 khu; năm 2018 thực hiện 12 khu. Bên cạnh nguồn vốn từ ngân sách huyện, nguồn vốn của chương trình Giảm nghèo khu vực Tây Nguyên đã góp phần quan trọng phát triển hạ tầng của huyện trong thời gian qua.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội XVIII Đảng bộ huyện, huyện đã tập trung các giải pháp để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức từ huyện đến xã về chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị; qua đó, chất lượng đội ngũ các cấp ngày càng được nâng cao, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Công tác quy hoạch cán bộ được thực hiện nghiêm túc, tỉ lệ cán bộ nữ, cán bộ trẻ, người dân tộc thiểu số được nâng lên; việc đề bạt, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển, thực hiện đảm bảo quy trình, thủ tục, khách quan; công tác tuyển dụng cán bộ, công chức đảm bảo đúng quy định, dân chủ, khách quan.

Thành lập Tổ xúc tiến đầu tư, kêu gọi và hỗ trợ các nguồn lực đầu tư vào huyện, bước đầu đạt những kết quả khả quan.  Bên cạnh đó, phối hợp với Báo Quảng Nam tổ chức thành công tọa đàm “Giải pháp xúc tiến đầu tư phát triển cây dược liệu” trên địa bàn tỉnh, tạo kênh đối thoại giữa các cơ quan quản lý Nhà nước và doanh nghiệp, khuyến khích và thu hút các nguồn lực xã hội vào việc đầu tư, khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế về tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu vực miền núi nói riêng và tỉnh Quảng Nam nói chung.

Lĩnh vực Giáo dục - đào tạo: Cơ sở trường lớp, trang thiết bị phục vụ dạy và học không ngừng phát triển; toàn huyện có 33 đơn vị trường học. Tiếp tục duy trì phổ cập mầm non, tỷ lệ huy động trẻ từ 03 – 05 tuổi ra lớp và trẻ em 05 tuổi được đến lớp đạt 95%. Tỷ lệ duy trì sĩ số học sinh tiểu học, THCS đạt 95%. Công tác xây dựng trường chuẩn quốc gia được triển khai theo kế hoạch[7]. Đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên từng bước được củng cố, kiện toàn về số lượng, cơ cấu, trình độ theo yêu cầu. Công tác xã hội hóa giáo dục, đặc biệt là thu hút nguồn lực kiên cố hóa trường lớp, chuẩn hóa trang thiết bị dạy – học và hỗ trợ cơ sở vật chất phục vụ bán trú, nội trú, bữa ăn cho học sinh,… đạt kết quả cao[8]. Công tác đào tạo, bồi dưỡng được quan tâm. Số lao động được đào tạo nghề trung bình mỗi năm là 235 lao động; số lao động được tạo việc làm mới mỗi năm đạt 332 người, đạt 83% so với chỉ tiêu đề ra.

 Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân được chú trọng, cơ sở vật chất, trang thiết bị và đội ngũ cán bộ y tế được tăng cường cả về số lượng lẫn chất lượng. Trạm y tế 10/10 xã được xây dựng kiên cố, cơ sở vật chất kỹ thuật được đầu tư. Các chương trình y tế quốc gia được triển khai đảm bảo; công tác vệ sinh, phòng bệnh cho nhân dân được chú trọng. Chương trình phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em đạt kết quả; tỷ lệ suy dinh dưỡng nhẹ cân dưới 05 tuổi còn 19,8%.

Công tác DS - KHH gia đình được chú trọng, tỷ suất sinh thô qua 03 năm ổn định; tỷ lệ sinh 03 trở lên giảm từ 30,07% năm 2015 xuống còn 28% năm 2017. Tuy  nhiên, tỷ lệ phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ áp dụng các biện pháp tránh thai có chiều hướng giảm: (2015) là 56,7%, (2017) là 37,39%.

Lĩnh vực văn hóa - thông tin phát huy các giá trị bản sắc văn hóa truyền thống, bảo tồn các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể được chú trọng; tổ chức tốt các ngày lễ lớn với nhiều nội dung, hình thức phong phú, đa dạng, thu hút đông đảo nhân dân tham gia. Cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa tiếp tục triển khai thực hiện đạt kết quả. Hoạt động TD - TT có bước tiến bộ khởi sắc; đăng cai tổ chức thành công hội thi thể thao các DTTS toàn tỉnh lần thứ I-2016, để lại  nhiều ấn tượng tốt đẹp.

Thông tin truyền thông phát triển đáng kể; đầu tư nâng cấp công suất, trang thiết bị Đài TT - TH huyện; 65 cụm dân cư trên 43 thôn ở huyện được đầu tư lắp đặt hệ thống Parapol - Tivi phục vụ xem truyền hình cho nhân dân. Hiện nay có khoảng 60% dân số nghe được sóng truyền thanh, 25% số hộ gia đình xem truyền hình (qua sóng truyền thanh, truyền hình huyện). Thông tin liên lạc phát triển tương đối khá, mạng điện thoại di động phủ sóng 10/10 xã của huyện; hiện huyện có 02 trang thông tin điện tử của Huyện ủy, UBND huyện và nhiều trang của các cơ quan, đơn vị, trường học.

Chương trình MTQG giảm nghèo bền vững được triển khai thực hiện có hiệu quả. Với chủ trương cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang đồng hành cùng người nghèo (với phương châm 3 cán bộ công chức, viên chức, lực lượng vũ trang giúp đỡ 1 hộ đăng ký thoát nghèo). Qua đó, kết quả giảm nghèo hằng năm luôn đạt chỉ tiêu kép “giảm tỷ lệ hộ nghèo và số lượng hộ nghèo; giảm tỷ lệ hộ nghèo và giảm tỷ lệ hộ cận nghèo”. Đến nay, tỷ lệ hộ nghèo giảm 14,82%, từ 70,89 % (4.744 hộ) năm 2015 xuống còn 46,45% (3.326 hộ) cuối năm 2018.

Công tác quản lý nhà nước về, đào tạo nghề, lao động, việc làm đã được triển khai thực hiện đạt kết quả cao, mỗi năm có thêm trên 750 người có việc làm mới. Tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo tăng lên đạt 29,5%.

Công tác chăm lo người có công với cách mạng, chính sách trợ giúp xã hội cho các đối tượng bảo trợ xã hội, người cao tuổi, trẻ em…, được thực hiện đảm bảo kịp thời, chu đáo.Các chính sách hỗ trợ người nghèo, người cận nghèo được thực hiện đầy đủ. Công tác phòng, chống tệ nạn xã hội được quan tâm.

Thường xuyên quan tâm thăm hỏi, trợ cấp, giúp đỡ các hộ gia đình chính sách, gia đình nghèo, đồng bào DTTS nghèo có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em mồ côi. Nhất là trong các dịp Lễ, Tết, mùa giáp hạt.

Tình hình an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội được ổn định và giữ vững, luôn luôn cảnh giác trước các hành động tuyên truyền, xuyên tạc của các thế lực thù địch nhằm gây mất đoàn kết trong cộng đồng các dân tộc. Phát huy vai trò già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng các dân tộc thiểu số trong việc tuyên truyền, vận động bảo vệ an ninh trật tự tại thôn nóc, các tình trạng mê tín dị đoan, các hủ tục lạc hậu từng bước đã được khắc phục.Đồng bào các dân tộc thiểu số luôn tin tưởng tuyệt đối vào đường lối chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tham gia tích cực các phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc, tích cực phòng chống luận điệu xuyên tạc, chống phá gây mất uy tín của Đảng, phòng chống các tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm, trộm cắp,… các tệ nạn khác xâm nhập vào cộng đồng dân cư của đồng bào các dân tộc thiểu số.                          

Công tác thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở đã có bước chuyển biến tích cực giúp cho nhân dân nhận thức đầy đủ quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của mình trong việc tham gia xây dựng chính quyền các cấp ngày càng trong sạch, vững mạnh. Chính quyền địa phương luôn có sự đổi mới về phương pháp tổ chức và lề lối làm việc sâu sát thực tế, lắng nghe ý kiến nguyện vọng, kiến nghị của nhân dân, giải quyết kịp thời những bức xúc từ thực tiễn cuộc sống và lao động sản xuất đặt ra. Thông qua các cơ quan tuyên truyền, các cấp chính quyền, mặt trận và các hội đoàn thể, các cuộc tiếp xúc cử tri, kịp thời thông báo cho nhân dân về các chủ trương nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước; về thủ tục cải cách hành chính; các dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội hằng năm; các chương trình chính sách đối với các xã, vùng đặc biệt khó khăn cũng như việc huy động nghĩa vụ đóng góp của công dân.

Trên cơ sở đó quyền làm chủ của nhân dân được phát huy rõ nét, nhiều xã đã tổ chức cho nhân dân tham gia thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của mình theo phương châm: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” và quyết định những vấn đề có liên quan đến quyền lợi trực tiếp như: điện, đường, trường, trạm, chợ, nước sạch, khu dân cư mới; xây dựng thôn văn hóa; nhà sinh hoạt cộng đồng; bầu cử trưởng thôn, người uy tín;  đền bù giải phóng mặt bằng; chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, khai hoang ruộng lúa nước; giống cây trồng, con vật nuôi .v.v…được thực hiện đúng với tinh thần và nội dung quy chế dân chủ.

Công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng từ huyện đến cơ sở luôn được chú trọng; triển khai thực hiện kịp thời các nghị quyết, chỉ thị của Đảng các cấp đến với nhân dân, để nghị quyết của Đảng đi vào cuộc sống. Đẩy mạnh công tác kiểm tra giám sát tổ chức cơ sở đảng, và đảng viên; triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, gắn với Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Công tác phát triển đảng viên được chú trọng, đến nay toàn Đảng bộ có 42 chi, đảng bộ trực thuộc với 1770 đảng viên (tăng hơn 3 lần so với 2003). Công tác đánh giá, phân loại chất lượng đảng viên và tổ chức cơ sở đảng hằng năm được thực hiện nghiêm túc đúng quy định.

2. Định hướng phát triển của huyện trong những năm tiếp theo

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Nam Trà My lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 2015 – 2020 xác định: "Tiếp tục giữ vững và phát huy đoàn kết thống nhất trong hệ thống chính trị, tạo sự đồng thuận cao trong các tầng lớp nhân dân, nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hoá- xã hội; giữ vững quốc phòng an ninh; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh".

Phấn đấu tốc độ tăng trưởng kinh tế hằng năm 10%. Thu nhập bình quân đầu người đạt 12 – 14 triệu đồng/người/năm.

Cơ cấu giá trị sản xuất ngành nông - lâm nghiệp là 45% - 50%, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp 35%, dịch vụ - thương mại 20 - 25%. Sản lượng lượng thực cây có hạt 6000 tấn (bình quân lương thực đầu người 220kg/người/năm).

Phấn đấu đến năm 2020 phát triển 100 ha sâm Ngọc Linh gốc, hằng năm trồng 250.000 đến 300.000 cây dược liệu (tương đương 60 - 70 ha), trồng mới 100.000 cây sâm Ngọc Linh. Cây quế, phấn đấu đến năm 2020, tổng diện tích Quế Trà My trồng mới là 3000 ha; trồng rừng và phục hồi cây bản địa, nâng độ che phủ của rừng năm 2020 lên 60%.

Hằng năm, phấn đấu vượt thu ngân sách trên địa bàn huyện từ 15 - 20% so với dự toán tỉnh giao. Có 80% hộ trở lên sử dụng điện, 85% hộ trở lên được xem truyền hình và nghe đài phát thanh. Có 20 - 30 % số xã đạt chuẩn nông thôn mới, đến năm 2020, xã Trà Mai được công nhận chuẩn nông thôn mới; thôn 01 xã Trà Mai có một “Khu dân cư nông thôn mới kiểu mẫu”, các xã còn lại đạt ít nhất từ 08 đến 19 tiêu chí.

Duy trì phổ cập giáo dục 10 xã; xây dựng 07 - 08 trường đạt chuẩn quốc gia; có 04 trạm y tế đạt tiêu chí quốc gia. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên hằng năm 11 - 15%. Giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em < 5 tuổi xuống còn dưới 18%.

Giảm tỷ lệ hộ nghèo mỗi năm 06 - 08%, đến năm 2020 tỷ lệ hộ nghèo còn 22 - 32% (theo tiêu chuẩn hiện nay). Tuyển quân đạt 100% chỉ tiêu tỉnh giao; xây dựng lực lượng dân quân, tự vệ  chất lượng cao đạt 2.64% so với dân số. Hằng năm kết nạp 90 đảng viên; có trên 70% các tổ chức có sở đảng đạt “Trong sạch, vững mạnh”, không có tổ chức đảng yếu kém.

Để đạt được mục tiêu trên các cấp ủy đảng, chính quyền, mặt trận và các hội, đoàn thể tiếp tục kế thừa và phát huy truyền thống hào hùng, vẻ vang qua 70 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành của Đảng bộ huyện Trà My (nay là huyện Nam Trà My); đoàn kết, nhất trí khắc phục những khó khăn, nêu cao tinh thần chủ động, sáng tạo, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, quyết tâm phấn đấu hoàn thành thắng lợi các chỉ tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Nam Trà My khoá XVIII và Đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2015- 2020 đề ra và những năm tiếp theo.



[1] Trong đó chủ yếu chăn nuôi bò, heo, dê, trồng quế, chuối cây dược liệu, sâm Ngọc Linh,...

[2] Trong đó: Trà Linh: 25 nhóm/470 hộ/715,23 ha; Trà Nam: 05 nhóm/125 hộ/44,82 ha; Trà Cang: 09 nhóm/184 hộ/172,11 ha.

[3] Trong đó, dùng điện Quốc gia là 3.487 hộ, điện thủy luân là 600 hộ, điện năng lượng mặt trời là 246 hộ.

[4] Có 07 tuyến xe vận chuyển hành khách, hàng hóa tuyến Nam Trà My – Tam Kỳ và 01 chiếc xe chạy tuyến NTM – Đà Nẵng; có 70 phòng lưu trú.

[5] Hiện có 04 DN được cấp giấy phép đầu tư trồng Sâm, gồm: Công ty TNHH Sâm Sâm, Công ty Cổ phần nguyên liệu giống Miền Trung, Công ty Cổ phần thương mại dược Sâm Ngọc Linh Quảng Nam và Tập đoàn Hoa Thiên Phú.

[6] Tuyến Trà Linh – Măng Lùng (11,608 km, tổng mức đầu tư 149.224 triệu đồng), đường Tắk Pong – Tắk Ngo (8,022 km, tổng mức đầu tư 80.589 triệu đồng), đường Măng Lùng – Đắk Lây (10,4km, tổng mức đầu tư 129.962 triệu đồng)

[7] Hiện có 03 trường đạt chuẩn quốc gia cấp độ 1, gồm: Trường PTDTBT – THCS Trà Don; Trường Mầm non Hoa Mai và Trường PTDTBT – THCS Trà Nam.

[8] Xây dựng mới hơn 20 điểm trường, với nhiều trang thiết bị như tivi, điện năng lượng mặt trời, quạt máy, công trình vệ sinh, khu vui chơi, thư viện… Xây dựng, đưa vào sử dụng 04 khu nội trú học sinh ở các trường xã; đầu tư hệ thống lọc nước dùng trực tiếp, hệ thống nấu ga công nghiệp phục vụ cho học sinh bán trú. Triển khai nhiều chương trình như học sinh bán trú tai điểm trường lẽ, Bầu sữa yêu thương…, với tổng kinh phí qua gần 03 năm học lên đến hàng tỷ đồng.



Tác giả: Ban Tuyên giáo Huyện ủy


[Trở về]

Các tin mới hơn:

Các tin cũ hơn:

Bản quyền thuộc về UBND Huyện Nam Trà My - Tỉnh Quảng Nam
Địa chỉ: Xã Trà Mai, Huyện Nam Trà My, Tỉnh Quảng Nam Tel: 0235.3880015 | Fax: 0235.3880015 | Email : tonghopnamtramy@gmail.com
Chịu trách nhiệm nội dung: Nguyễn Đình Bình - Chánh văn phòng HĐND UBND Huyện Nam Trà My
Phát triển bởi Trung tâm Công Nghệ Thông Tin và Truyền Thông Quảng Nam (QTI)


);