Thứ bảy 19/04/2014, 01:41 GMT + 7

Liên kết




Cổng thông tin điện tử Quảng Nam




Trang nhất » Giới thiệu

Huyện Nam Trà My

GIỚI THIỆU HUYỆN NAM TRÀ MY
1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
+ Huyện Nam Trà My là huyện miền núi cao của tỉnh Quảng Nam, có vị trí địa lý vào khoảng: 15057' độ vĩ Bắc và 108009' độ kinh đông; cách tỉnh lỵ gần 100 km về hướng Tây Nam.
Phía Đông giáp huyện Sơn Tây (tỉnh Quảng Ngãi) và huyện Kon Plông (tỉnh Kon Tum)
Phía Tây giáp huyện Phước Sơn
Phía Bắc giáp huyện Bắc Trà My
Phía Nam, Tây Nam, Đông Nam giáp các huyện Đắk Glei, Tu Mơ Rông thuộc tỉnh Kon Tum.
+ Địa hình phức tạp hầu hết đồi núi đất đốc, nhiều thung lũng chằng chịt bị chia cắt bởi nhiều sông suối, đất lâm nghiệp chiếm diện tích lớn, đất nông nghiệp phân tán, nhỏ lẻ.
+Diện tích tự nhiên:  82.253 ha, trong đó:
* Diện tích đất nông nghiệp là: 44.380 ha, gồm:
+ Đất sản xuất nông nghiệp: 2.572ha; trong đó: đất trồng cây hằng năm là: 2.315ha (đất trồng lúa: 1.463 ha); đất trồng cây lâu năm: 257 ha.
+ Đất lâm nghiệp: 41.808 ha; trong đó: đất rừng sản xuất: 162 ha, đất rừng phòng hộ: 41.646 ha.
* Diện tích đất phi nông nghiệp: 849 ha
* Diện tích đất chưa sử dụng: 37.024ha
2. Lịch sử
+ Nam Trà My từng là một phần của huyện Trà My cũ của tỉnh Quảng Nam. Ngày 20 tháng 6 năm 2003, Chính phủ ban hành nghị định số 72/2003/NĐ-CP, chia tách huyện Trà My của tỉnh Quảng Nam thành hai huyện Bắc Trà My và Nam Trà My như ngày nay.
3. Các xã trong huyện
+ Nam Trà My có 10 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm các xã: Trà Don, Trà Leng, Trà Vân, Trà Vinh, Trà Tập, Trà Dơn, Trà Nam, Trà Cang, Trà Mai, Trà Linh.
4. Thực trạng kinh tế - xã hội:
+ Toàn huyện có 10 đơn vị hành chính xã, chưa có thị trấn; có 43 thôn với 225 nóc. Trên địa bàn huyện có 03 Trung tâm cụm xã gồm: Trung tâm cụm xã Tắc Pỏ - xã Trà Mai, Trung tâm cụm xã Tắc Chanh - xã Trà Don và Trung tâm cụm xã Trà Vân. Tuy nhiên, Trung tâm cụm xã Trà Vân mới được đầu tư, chưa đáp ứng yêu cầu của một trung tâm cụm xã.
+ Về sản xuất nông-lâm nghiệp: đã từng bước áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, cơ cấu cây trồng có sự thay đổi theo hướng tăng cây công nghiệp quế Trà My, sâm Ngọc Linh và gần đây là cây keo, cây cau, cây mây. Việc khai hoang, cải tạo đồng ruộng được chú trọng, diện tích ruộng lúa nước không ngừng tăng lên, mỗi năm khai hoang tư 15-20ha; sản lượng lương thực cây có hạt hằng năm đạt kế hoạch đề ra. Chăn nuôi có sự phát triển, chuyển biến tích cực, tổng đàn gia súc gia cầm không ngừng tăng lên. Song khó khăn hiện nay là sản xuất chủ yếu là lúa rẫy, năng xuất thấp, diện tích ruộng lúa nước rất hạn chế, chưa tìm được đầu ra cho các sản phẩm nông nghiệp.
+ Đặc sản: Huyện Nam Trà My là vùng trồng quế nổi tiếng của tỉnh Quảng Nam. Do có điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu phù hợp: độ cao địa hình khoảng 400-800 m nên biên độ nhiệt giữa ngày và đêm lớn, khí hậu nhiệt đới lại được đèo Hải Vân chắn hết gió lạnh thổi từ phía Bắc, rất thích hợp với cây quế, nên cây quế phát triển rất tốt ở các xã Trà Dơn, Trà Leng, Trà Tập, Trà Mai, Trà Vân. Cây quế vùng này có hàm lượng tinh dầu rất cao. Ngoài Quế, Nam Trà My còn có một số dược liệu nổi tiếng khác như Sâm Ngọc Linh, Sơn Tra Ngọc Linh, Sâm Nam...
5. Cơ sở hạ tầng
+ Hiện tại huyện chỉ có 06/10 xã có đường ô tô vào đến trung tâm xã; 10/10 xã có điện thắp sáng ở khu vực Trung tâm xã; các công trình thuỷ lợi nhỏ, hệ thống kênh mương, hệ thống nước sinh hoạt được xây dựng mới và tu bổ thường xuyên; xây dựng  mới 04/10 trụ sở làm việc xã, trụ sở của các cơ quan, đơn vị đều được xây mới; xây dựng 88 phòng học, 57 phòng ở cho giáo viên - học sinh. Song, do điều kiện xuất phát quá thấp, nên đến nay toàn huyện chỉ có 22km đường nhựa (trong đó Đt 616 là 17,3km, đường huyện là 4,7km), hiện đường Nam Quảng Nam đi qua huyện đến Kon Tum đang triển khai thi công; có 06 tuyến đường huyện dài 83,6 km, hầu hết là đường đất.
6. Dân số và đời sống nhân dân
+ Dân số: Dân số toàn huyện là 24.511 người (tính đến thời điểm tháng 9/2010), chủ yếu là đồng bào các dân tộc: Ca dong chiếm 54,49%, Xêđăng chiếm 35,40%, Bhnoong chiếm 7,11%, Kinh chiếm 2,84%, Cor chiếm: 0,09% và các dân tộc khác chiếm 0,07%; Dân cư phân tán, mật độ dân số bình quân: 29 người/km2.
+ Tình hình đời sống nhân dân: Đời sống đồng bào các dân tộc huyện còn rất nhiều khó khăn, cuộc sống phụ thuộc chủ yếu vào sản xuất nông nghiệp làm lúa rẫy một vụ. Tình trạng đói giáp hạt còn xảy ra ở nhiều nơi. Tỷ lệ hộ đói nghèo còn cao.
7. Văn hóa giáo dục
+ Toàn huyện có 24 đơn vị trường học (trong đó: có 5 trường THCS Bán trú cụm xã, 01 trường Phổ thông Dân tộc nội trú, 01 trường phổ thông trung học, 07 trường Tiểu học, 04 trường mẫu giáo, 01 trường mầm non, 03 trường phổ thông cơ sở, 02 trường THCS) và 01 trung tâm giáo dục thường xuyên - hướng nghiệp; Đội ngũ giáo viên có 545 người; Tổng số lớp là 372; Tổng số học sinh 8.061em; tổng số phòng học có 353 phòng, trong đó còn 20 phòng học tạm tranh, tre. Toàn huyện có 10/10 xã hoàn thành chương trình phổ cập Tiểu học đúng độ tuổi và chống mù chữ, 10/10 xã hoàn thành chương trình phổ cập Trung học cơ sở.
+ Về đội ngũ cán bộ xã: phần lớn chưa có kinh nghiệm thực tiễn, chưa được đào tạo cơ bản; trình độ văn hóa thấp: cấp I chiếm 24,5%, cấp II chiếm 66,6%, cấp III chiếm 8,9%. Hiện nay, huyện đang phối hợp triển khai mở các lớp đào tạo chuyên môn, chính trị, các lớp bồi dưỡng về thực hiện chương trình 135 cho đội ngũ cán bộ xã từ nguồn kinh phí 30a và các nguồn kinh phí khác để đáp ứng yêu cầu công tác trong giai đoạn mới.
+ Về phủ sóng truyền thanh - truyền hình và mạng lưới thông tin liên lạc: do điều kiện miền núi cao, địa hình phức tạp nên sóng phát thanh, truyền hình của đài tỉnh, đài khu vực không phủ sóng được. Vì vậy, hằng năm bằng nhiều nguồn vốn khác nhau Huyện đã hỗ trợ cho các thôn, nóc hệ thống Parabol + ti vi để phục vụ cung cấp thông tin cho đồng bào. Mạng lưới thông tin liên lạc đáp ứng được yêu cầu, điện thoại có tại 10/10 Trung tâm xã và mạng điện thoại Vinaphone, Mobiphone, Viettel, Điện lực đã phủ sóng tại huyện và một số xã lân cận. Song bưu điện văn hoá xã chỉ có tại 04/10 xã.
+ Công tác giáo dục quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân được tăng cường và củng cố. Chỉ tiêu huấn luyện và tuyển quân hằng năm đạt 100%. Lực lượng dự bị động viên của huyện không ngừng được củng cố và phát triển cả về số lượng và chất lượng, đạt 100% so với tổng biên chế; xây dựng lực lượng dân quân tự vệ đạt 2,62% so với dân số; đã có 10/10 xã tổ chức diễn tập tác chiến khu vực phòng thủ theo cơ chế 02/BCT của Bộ Chính trị. Phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc được thường xuyên duy trì và phát triển, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội đảm bảo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội. Tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát lâm – khoáng sản, các vùng giáp ranh với huyện bạn, tỉnh bạn.
 
Trung tâm hành chính Tak pỏ huyện Nam Trà My
Ảnh :Trung tâm hành chính Tak Pỏ huyện Nam Trà My
 

Điều hành công việc






Thăm dò ý kiến

Bạn thấy giao diện mới của trang thông tin điện tử Huyện Nam Trà My như thế nào ?

Bố cục đẹp, hài hòa và bắt mắt

Đẹp, chuyên nghiệp

Hơn giao diện cũ

Bình thường